Quãng đời bị cầm tù của Bác tại nhà lao Quảng Tây qua Nhật kí trong tù

Đang tải...

Quãng đời bị cầm tù của Bác tại nhà lao Quảng Tây qua Nhật kí trong tù

Đề bài 9: Nhắc đến quãng đời bị cầm tù của Bác tại nhà lao Quảng Tây – Trung Quốc, trong bản trường ca Theo chân Bác, Tố Hữu có 4 câu thơ chân thực và cảm động:

Lại thương nỗi đọa đày thân Bác

Mười bốn trăng tê tái gông cùm

 Ôi chân yếu, mắt mờ, tóc bạc

Mà thơ bay… cánh hạc ung dung.

Qua tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh, anh (chị) hiểu những câu thơ trên như thế nào?

Bài làm

Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nói “Hồ Chủ tịch là hình ảnh của một sức mạnh bình tĩnh, không khiếp sợ, không hoảng hốt. Đó là sức mạnh của những người sống cùng một nhịp với trào lưu thế giới, với quy luật tiến hóa của lịch sử’. Cho nên giữa những ngày bị giam cầm đau khổ ở nhà lao Tưởng Giới Thạch, Người vẫn hiện lên trong tư thế của một ■ thi nhân, một tiên ông:

Lại thương nỗi đọa đày thân Bác

Mà thơ bay… cánh hạc ung dung

Trên đường hoạt động cách mạng, vừa mới đặt chân lên biên giới Trung Quốc, Bác liền bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô lý. Sa vào nhà tù của chúng có khác gì sa vào “địa ngục”. Bác bị giam ở tỉnh Quảng Tây 14 tháng (14 trang) từ đầu mùa thu 1942 đến cuối mùa thu 1943. Trong suốt 14 tháng trời đằng đẵng ấy, Bác phải chịu biết bao sự đọa đày đau khổ “tê tái gông cùm”.

Lại thương nỗi đọa đày thân Bác

Mười bốn trăng tế  gông cùm

Nói sao hết tấm lòng của nhà thơ  Tố Hữu được bộc lộ qua hai chữ “đọa đày” và “tê tái” ấy. Câu thơ chứa chan biết bao tình cảm xót thương của tác giả đối với Bác, một sự xót thương đến nghẹn ngào rơi lệ, đồng thời đó cũng là tiếng nói căm phẫn của tác giả đối với chế độ Tướng Giới Thạch bạo tàn đã “đọa đày thân Bác”.

Chỉ trong mười mấy tháng mà Bác bị chúng giải tới giải lui hơn 30 nhà lao lớn nhỏ trên tỉnh Quảng Tây mênh mông. Hầu hết phải đi bộ, có ngày phải đi tới năm mươi ba cây số. Đi trong tư thế tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang xích, có lính áp giải, phải leo đèo, vượt suối, băng rừng; đi trong cảnh thời tiết khắc nghiệt “một ngày nắng chín ngày mưa”, hoặc “rát mặt đêm thu trận gió hàn”. Ban ngày phải dấn bước trên con đường lầy chân lấm lấp. Ấy thế mà đêm đêm Bác không được bọn chúng cởi trói cho để ngủ nhiều khi bị cấm:

Năm mươi ba cây số một ngày

Áo mũ dầm mưa rách hết giày

Lại kì lo thâu đêm không chỗ ngủ

Ngồi trên hố xí đợi ngày mai;

Dữ tựa hung thần miệng chực nhai

Đèm đếm hả hốc nuốt chân người

Mọi người bị nuốt chân bên phải

Co duỗi còn chân bên trái thôi.

Chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch thật vô cùng bất nhân, tàn bạo. Người tù phải chịu biết bao cảnh cực khổ đọa đày: ăn đói, mặc rét, phải ngủ với rận, rệp, hàng ba bốn tháng trời không được tắm giặt.

Bốn tháng cơm không no 

Bốn tháng đêm thiếu ngủ

Bốn tháng áo không thay

Bốn tháng không giặt giũ

Chính phải sống trong cảnh “phi nhân loại” sinh hoạt như thế, cho nên chỉ có mấy tháng thôi mà thân thể Bác đã tiều tụy hơn mười năm trời:

Răng rụng mất một chiếc

Tóc bạc thêm mấy phần

Gầy đen như quỷ đói

Ghẻ lở mọc đầy thân

Nhìn thấy cảnh ấy của Bác, chúng ta ai mà chẳng phải thốt lên niềm thương cảm vô hạn đối với Bác như nhà thơ Tô Hữu “Ôi! chân yếu mắt mờ tóc bạc”. Nhà tù đã đày đọa Bác làm cho sức khỏe của Bác suy giảm đi rất nhiều. Cảm động biết bao, khi ta nghe Bác kể:

Ngồi lâu chân đã mềm như bún

Nay thử ra đi muốn ngã nhào

Chế độ nhà tù khắc nghiệt giam hãm Bác trong 4 bức tường cao lanh lẽo vói xiềng xích, chấn song cửa sổ, mơ tưởng sẽ làm tiêu tan nghị lực kiên cường, tâm hồn khao khát tự do của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh vĩ đại. Nhưng chúng đã nhầm:

Ngục tối trái tim càng cháy lửa

Xích xiềng không khóa nổi lời ca

(Hoàng Trung Thông)

Mặc dù nhà tù khắc nghiệt có làm cho Bác “chân yếu mắt mờ tóc bạc”; nhưng ý chí nghị lực phi thường, tình yêu thương con người, cuộc sống và niềm tin tươi sáng vào tương lai vẫn giúp cho Bác có một sức mạnh tinh thần kỳ lạ vượt lên trên tất cả cảnh đọa đày tăm tối khắc nghiệt của tù ngục. Bác vẫn là nhà thơ giữa vòng kìm kẹp của kẻ thù; vẫn hiện lên với phong thái ung dung như một tiên ông giữa động tiên.

Mà thơ bay… cánh hạc ung dung “Cánh hạc” là một hình ảnh rất quen thuộc của thơ ca cổ điển, nó gắn liền với cảnh tiên và gợi lên một cái gì đó phiêu diêu bay bổng. Thôi Hiệu chẳng từng đã viết:

Hạc vàng ai cưỡi đâu xưa

Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay đó sao?

Và Thê Lữ cũng đã có hai câu thơ gợi hình ảnh cánh hạc rất thơ đó:

Trời cao xanh ngắt! ô kìa!

Hai con hạc trắng bay về bồng lai Nhà tù tàn bạo của chế độ Tưởng Giới Thạch chỉ có thể trói buộc được thể xác Hồ Chí Minh, chứ không thể giam cầm nổi tinh thần yêu thiên nhiên, niềm lạc quan, tâm hồn bay lượn trong bầu trời tự do của nhà thơ Hồ Chí Minh. Dù hoàn cảnh nào, Bác cũng hiện lên trong phong thái tự do ung dung tự tại. Bác đã biến những cuộc chuyển lao đầy gian khổ thành những chuyến đi ngoạn cảnh:

Mặc dù bị trói chân tay Chim ca rộn núi hương bay ngát rừng Vui say ai cấm ta đừng Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu

Hôm nay xiềng xích thay dây trói

Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung

Tuy bị tình nghi là gián điệp

Mà như khanh tướng về ung dung

Ăn cơm nhà nước, ở nhà công

Binh lính thay phiên để hộ tùng

Non nước dạo chơi tùy sở thích

Làm trai như thế cũng hào hùng

Vừa bước vào tù, Bác đã xem tự do tinh thần như là một phương châm sống:

Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao

Và Người tự cho mình là “khách tự do, khách tiên trong tù”:

Tự do tiên khách trên trời Biết chăng trong ngục có người khách tiên Có hôm Bác phải chuyển lao bằng thuyền và đi trong tư thế gần như bị treo cổ (Xử giảo) Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình Thế mà vừa chứng kiến cảnh sinh hoạt tươi vui bên sông, tâm hồn Bác đã bay theo thuyền câu rẽ sóng thênh thênh lướt giữa dòng. Thuyền câu rẽ sóng thênh thênh, hay tâm hồn Bác thênh thênh? Không có một tâm hồn ung dung thanh thản đến độ thanh thanh thì dễ gì có thể viết nên được câu thơ nhẹ nhàng thanh thoát đến thế. Nhiều lần Bác phải chuyển lao trong cảnh đường xa, gió lạnh từng đợt thổi táp vào mặt; thế mà khi bình minh lên, ngắm nhìn khung cảnh đất trời ửng hồng, người tù Hồ Chí Minh lập tức trở thành một khách thơ với tâm hồn dạt dào thi hứng: (Giải đi sớm).

Một nhà phê bình người Mỹ đã gọi Bác Hồ là “nhà thơ có tâm hồn của con rồng”. Còn Xuân Diệu thì cho rằng “sự ung dung ở Bác đã đạt đến trình độ thần thánh”, về phương diện này, Ngắm trăng là một bài thơ khá cảm động. Hiện thực nhà tù khô khan không rượu cũng không hoa vẫn không thể ngăn cản nổi tâm hồn xốn xang dạt dào cảm xúc của Bác khi vầng trăng đẹp xuất hiện:

Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ

Và thế là bất chấp song sắt nhà tù tàn bạo, Người đã hướng tới vầng trăng bằng một mềm cảm thông đến kỳ lạ:

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ

Qua hình ảnh thơ, chúng ta không còn thấy nhà tù đâu nữa mà chỉ thấy nổi bật lên trên trang thơ là hình ảnh một vầng trăng lung linh tỏa sáng và một thi nhân ung dung thư thái với tâm hồn đắm say với trăng.

Bốn câu thơ trên cửa Tố Hữu đã cho ta hiểu thêm về một quãng đời bị đọa đày đau khổ của Bác những ngày bị giam cầm ở nhà tù Quảng Tây – Trung Quốc, đồng thời ta cũng hiểu thêm được vẻ đẹp tinh thần kỳ diệu của Bác, một con người được xem là “Tinh hoa trái đất của Kim Cương”

Con người đẹp nhất trong nhân loại Trí tuệ tình yêu của bốn phương.

https://hoc360.net/phan-tich-tac-pham-cha-con-nghia-nang-ho-bieu-chanh/
https://hoc360.net/phan-tich-truyen-ngan-hai-dua-tre-thach-lam/

Đang tải...

Related Posts

One Comment

Bình luận