Lý Thánh Tông (1054 – 1072) – Các triều đại Việt Nam

Loading...

LÝ THÁNH TÔNG (1054-1072)

Niên hiệu:- Long Thụy Thái Bình (1054-1058)

  • Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065)
  • Long Chương Thiên Tự (1066-1067)
  • Thiên Chúc Bảo Tượng (1068)
  • Thần Võ (1069-1072)

Vua Lý Thái Tông có 2 con trai là thái tử Nhật Tôn và hoàng tử Nhật Trung.

Loading...

Vua Lý Thánh Tông cũng giống các vua Lý đòi trước, tuy đóng đô ở Thăng Long nhưng tình cảm thường gắn bó với đồng ruộng và thương dân. Vì vậy, đến mùa xuân vua thường về phủ Thiên Đức xem hội hè, lễ Phật, xem cấy lúa, đánh cá, mùa hè xem gặt hái, nghỉ mát tu dướng.

Chuyện xưa kể rằng: Một đêm hoàng hậu Mai Thị mơ thấy mặt trăng vào bụng, nhân đấy có mang. Ngày 25 tháng Hai năm Thuận Thiên thứ 14 (1023) hoàng hậu sinh hoàng tử ở cung Long Đức đặt tên là Nhật Tôn. Năm năm sau, Nhật Tôn được lập làm thái tử. Lón lên, thái tử thông kinh truyện, rành âm luật, sở trường về võ lực, tỏ rõ là một người thông minh xuất chúng. Trước khi lên làm vua, thái tử Nhật Tôn ở cung Long Đức 27 năm. Cung xây ở ngoại thành, nên ở đấy, thái tử dễ dàng thấu hiểu các việc trong dân gian, biết được nỗi đau, vất vả của dân, hiểu được cảnh đói rét, nỗi oan uổng, sự bất công ở các miền thôn dã. Chính vì vậy khi lên ngôi (năm 1054) lấy hiệu là Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt, vị vua có đầu óc tự cường tự lập, có hoài bão xây dựng một quốc gia hùng mạnh, có danh ngang vối “nước thiên tử” ấy cũng là vị vua tự coi mình là cha mẹ dân và hết lòng thương dân. Một lần ngự ở điện Thiên Khánh để xử kiện, con gái vua là công chứa Động Thiên đứng hầu ở bên cạnh. Phạm nhân là một tràng trai trẻ, phạm tội chỉ vì không hiểu luật. Nhà vua gọi chúa ngục lại, chỉ vào con gái mình mà nói:

-Ta yêu con ta cũng như các bậc cha mẹ trong thiên hạ yêu con cái họ. Trăm không hay biết nên tự phạm vào luật pháp, ta rất thương xót. Từ nay các tội bất kỳ nặng nhẹ cần phải răn dạy kỹ lưỡng và nhất nhất đều phải khoan giảm. Và vua đã tha bổng cho người con trai nọ.

Lần khác gặp ngày trời rất lạnh, nghĩ đến dân vua chạnh lòng nói với tả hữu:

Ta ở trong thâm cung, sưởi lò than, mặc áo hồ cừu mà khí lạnh còn thế này huông hồ những kẻ bị giam trong ngục thất, xiềng xích khổ đau, ngay gian chưa định, bụng không cơm no, thân không áo ấm một khi gặp cơn gió lạnh thổi há chẳng bị chết rét ư? Ta rất đỗi thương xót.

Nói rồi vua sai tả hữu đem chăn chiên trong kho ban cho tù nhân và mỗi ngày phát cho tù nhân hai bữa cơm. Và vua xuồng chiếu miễn cho cả nước một nửa số thuế năm đó.

Vua Lý Thánh Tông thương dân như thế nên trăm họ đều yêu mến, nước ít giặc giã. Vì muốn khai hóa cho dân, vua lập Văn Miếu, làm tượng Chu Công, Khổng Tử và 72 vị tiên hiền để thò.

Ngoài việc thực hiện nền chính trị nhân đạo thân dân, vua Lý Thánh Tông còn là người để tâm đến đạo Phật. Vua đã cho xây cất nhiều chùa chiền và là người sáng lập phái Phật giáo Thảo Đường. Lý luận của Thảo Đường thỏa mãn sự đòi hỏi của vua muốn phát triển ý thức dân tộc, muốn độc lập, tự cường, chống sự xâm lăng của Bắc Tông, hoà hợp vối Khổng học tạo nên sự thống nhất giữa ý chí và hành động của giới tu hành, thứ dân, nhằm xây dựng một nước Đại Việt hùng mạnh. Khác với các triều đại trước, Lý Thánh Tông đem đạo vào đời, mà cuộc đòi ấy, theo nhà vua, phải lấy việc phụng sự dân tộc, lấy sự đồng tâm nhất trí làm mục đích để tập trung vào hành động thiết thực, cứu thế bằng đức tin. Vua đã tìm thấy trong Phật học triết lý sinh thành dưỡng dục theo nghĩa lâu dài nối tiếp, là phương tiện dạy cho dân hiểu mình là ai, lấy ý chí tự cường để thắng số mệnh, phụng sự cho sự phồn vinh bền vững của quốc gia. Cũng do vậy, dân chúng Đại Việt tìm thấy nguồn cảm hứng vừa sâu rộng vừa cao siêu của mình ở tình yêu hiện thực và đại đồng Phật Giáo, ỏ lòng từ bi bác ái cứu nạn cứu khổ, cứu vớt chúng sinh. Nhân dân đến với đạo không phải vì chán ngán cuộc đời mà vì muốn sống cuộc đời cao cả là đời sống tâm linh. Những nhà tu hành đòi Lý không phải là những  người chán đòi đi ở ẩn mà là những người xuất thế để nhập thế, những người có học vấn muôn giúp đời và giúp người. Vì vậy, đòi Lý người tu hành xuất hiện khắp nơi. Chùa và đình thất mọc lên khắp nước. Kiến trúc chùa chiền thòi ấy rất giản dị, dịu mát ẩn dưới bóng đa linh thiêng và tôn kính.

Binh pháp thòi Lý Thái Tông có tiếng là giỏi. Nhà Tông đã phải dụng tâm học cách tổ chức phiên chế quân đội của ta.

Năm Nhâm Tý (1072) vua Lý Thánh Tông mất đột ngột, trị vì được 17 năm, thọ 50 tuổi.

File PDF

Xem thêm

LÝ NHÂN TÔNG (1072-1127)

 

Related Posts

Bình luận